Thành phần của quả nho

Nho gồm có 4 phần: cuống, vỏ, thịt và hạt

1.1. Cuống nho

Cuống nho là cầu nối giữa nho và thân cây cũng như lá cây, giúp cho quả nho đạt được lượng đường cao trong quá trình lá nho hấp thụ tia nắng mặt trời. Khi bạn nhấm nháp cuống nho, bạn có cảm giác đắng chát khó chịu ở lưỡi. Đó là chất chát, chất này rất quan trọng vì nó sẽ có vai trò trong việc sản xuất rượu có chất lượng, cũng như giúp cho việc bảo quản vang được lâu dài. Tiếp đó là chất chua, chất này cũng giữ vai trò quan trọng vì nó đảm bảo cho rượu vang có tính tươi mát. Cuống nho còn chứa chất xơ và các tố chất hóa học khác như muối khoáng và vitamin.

1.2. Vỏ và thịt nho

Vỏ nho được phủ bởi 1 lớp phấn và lông mịn, đảm bảo cho nước không thấm vào thịt nho, đồng thời giữ lại các chất lên men do gió và côn trùng đem lại. Trong vỏ nho có các chất chỉ thị màu như: Anthocyanes đối với rượu vang đỏ và Flavoines đối với rượu vang trắng. Cá biệt có một vài loại nho mang tố chất chỉ thị màu ngay trong thịt nho như là loại Poulsard.

thành phần của quả nho làm rượu

Khi ta ép nho đỏ, ba khả năng có thể xảy ra:

  • Ta sẽ có rượu vang trắng nếu ta để nước nho tách vỏ lên men.
  • Nếu ta cho vỏ và nước nho cùng lên men, sau một thời gian sẽ thu được rượu vang đỏ.
  • Trong quá trình rượu lên men, ta có thể thu được rượu vang hồng nếu ta biết ngừng quá trình tiếp xúc giữa vỏ nho và nước nho sau môt thời gian ngắn.

Đối với một số giống nho, hương vị của nho nằm ngay trong vỏ (Muscat, Chardonnay). Mỗi một giống nho có hương vị và đặc thù riêng, nhưng độ đậm nhạt của hương vị đó còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác như chất đất và năm thu hoạch. Thịt nho là phần quan trọng nhất của quả nho, gồm 70 – 80% nước. Trong một lít nước nho ép có từ 100 – 300g đường. Trong nước nho ép còn có các loại axít chua, muối khoáng và các loại vitamin.

1.3. Hạt nho

Nếu ai đã có dịp cắn vỡ hạt nho hẳn sẽ nhăn mặt vì vị đắng. Quả thật, hạt nho rất đắng nhưng cũng chứa nhiều chất dầu. Để tham khảo, cứ trong 225 lít nước nho, ta thu được số lượng hạt nho đủ để sản xuất một lít dầu hạt nho. Dầu hạt nho dùng để trộn xà lách hay còn được sử dụng trong công nghiệp mỹ phẩm và được bán rất đắt tiền. Cũng vì thế, trong quá trình ép nước nho phải hết sức chú ý để hạt nho không bị dập vỡ.

Xem thêm: Lịch sử cây nho và rượu vang

2. Các giống nho làm rượu chủ yếu.

Có một mối liên hệ chặt chẽ giữa các giống nho làm rượu vang và rượu vang của từng vùng sản xuất.

2.1. Các giống nho đỏ.

1.1. Merlot:

Cho ra các loại rượu đậm màu, khá tròn trịa, ngậy béo với các hương vị hoa quả, lá mục và da thuộc, vị chát không nhiều

giống nho merlot

1.2. Cabernet Franc:

Rượu có hương vị thơm với tính chất hoa quả và vị hơi ngai ngái của cỏ ướt, chất chát mạnh hơn giống Merlot.

Giống nho Cabernet Franc:

1.3. Cabernet Sauvignon:

Rượu có mùi rất thơm, khi có tuổi sẽ trở nên vừa mạnh mẽ vừa mềm mỏng, chất chát nhiều nhưng quý phái. Đây là giống nho chính của các vùng rượu vang có chất lượng tuyệt hảo Médoc Vàgraves (Bordeaux).

giống nho Cabernet Sauvignon

1.4. Grenache:

Cho các loại rượu thơm ngon, đậm màu, tròn trịa, ít chua, độ cồn cao. Giống nho chủ yếu ở vùng Côtes du Rhône và Chateauneuf – du – Pape, nhưng cũng rất phổ biến ở vùng Languedoc – Roussillon.

Giống nho Grenache

1.5. Carrignan:

Cho các loại rượu đậm màu, ít thơm, nhiều chất chát. Sẽ rất tốt nếu phối hợp với các giống nho béo và nhiều hương vị.

1.6. Cinsault:

Màu nhạt, nhiều vị hoa, quý phái, mềm mại, ít chất chát, không giữ được lâu. Đây là giống nho được sử dụng nhiều để làm rượu hồng và rượu đỏ mới (Vins Primeurs).

1.7 Mourvedre:

Cho những kết quả rất tốt ở vùng Bandol. Vang có màu rất đậm, độ sánh cao và giàu chất chát. Vang đươc nuôi trong thùng gỗ sồi tới 18 tháng, có thể giữ được rất lâu, chỉ nên đem ra uống sau 3 – 5 năm. Khi đó, hương vị rượu sẽ đạt đến mức tuyệt đỉnh: có mùi cỏ hoang dã, mùi cam thảo, mùi hồi, mùi gia vị và da thuộc.

1.8. Syrah:

Khi rượu còn trẻ, rượu có mùi hoa quả (nhất là hoa Violette); giữa chừng xuân sẽ có mùi hạt tiêu và da thuộc. Vang đậm và giàu chất chát, ít bị oxy hóa.

giống nho Syrah ( Shiraz )

1.9. Pinot Noir:

Vang giàu hương vị, chuyển khá nhanh từ mùi hoa quả sang mùi da lông thú. Được sử dụng trong hỗn hợp rượu champagne và vang sủi.

Giống nho Pinot Noir

1.10. Gamay:

Thường được sử dụng làm rượu Beaujolais mới, có mùi thơm của chuối và hoa quả tươi như anh đào và dâu tây. Nếu được ủ lâu sẽ cho các loại vang đậm giữ được 2 – 3 năm.

1.11. Tannat:

Vang rất đậm màu, rất chát, phải đợi vài năm mới dịu đi. Giống nho chính trong rượu Madiran vùng Tây – Nam.

1.12. Côt hay Malbec hay Auxerrois:

Vang đậm và giàu chất chát. Giống nho chính trong rượu Cahors vùng Tây – Nam.

1.13. Duras:

Giống nho chính làm rượu Gaillac, mùi vị thơm, rượu khá đậm.

1.14. Négrette:

Giống nho chính của rượu Côtes du Frontonnais, rượu đậm, có mùi dâu tây.

1.15. Braquet (Folle Noire):

Giống nho chính làm rượu Bellet cạnh thành phố Nice miền Nam nước Pháp.

1.16. Grolleau:

Giống nho phụ trợ ở vùng Anjou, Saumur và Touraine, sử dụng nhiều trong vang sủi.

1.17. Pinot Meunier:

Vang tinh tế, nhiều chất liệu hoa quả

Giống nho Pinot Meunier

1.18. Mondeuse:

Vang mạnh, nhiều hương vị.

1.19. Poulsard:

Vang màu đỏ nhạt, nhẹ nhàng, duyên dáng.

1.20. Tibouren:

Chủ yếu dùng làm rượu hồng, hương vị hoa quả tinh tế.

1.21. Trousseau:

Vang đậm màu, có độ cồn và độ chát cao, thường được trộn lẫn với dòng nho Poulsard.

2.2. Các giống nho trắng.

2.1. Aligoté:

Vang trắng nhẹ, ít chất chua, nên sử dụng nhanh.

 

2.2. Chardonnay:

Vang làm từ gống nho này thường rất hài hòa giữa chất chua, chất béo và chất ngọt, để được lâu, nhưng sản lượng thu hoạch không cao.

giống nho Chardonnay

2.3. Chasselas:

Vang nhẹ, nhiều hương vị nhưng ít chua, nên dùng ngay sau khi đóng chai.

 

2.4. Chenin blanc:

Dùng làm vang khô hay vang ngọt, khi còn trẻ hơi khó uống vì độ chua cao.

 

2.5. Clairette:

Vang có mùi hạnh nhân và độ cồn cao.

 

2.6. Colombart:

Vang có nhiều vị hoa, vị chua tương đối cao.

 

2.7. Gewurztraminer:

Vang đậm màu, độ cồn, độ sánh cao, hương vị đặc biệt (hoa hồng, gia vị: quế, hạt tiêu…).

 

2.8. Folle blanche:

Vang có độ còn thấp, tươi mát.

 

2.9. Gros và Petit Manseng:

Vang có độ chua cao nhưng không gắt, hương vị đặc biệt (hoa quả nhiệt đới), trồng chủ yếu ở vùng Đông Pyrénée.

 

2.10. Macabéo:

Vang nhiều vị hoa quả và độ cồn cao, có thể sử dụng làm vang thường hoặc vang sủi.

 

2.11. Marsanne:

Vang trắng nhẹ, tinh tế.

 

2.12 Mauzac:

Vang chất lượng cao, giàu hương vị.

 

2.13.Muscadelle:

Thường dùng trong hỗn hợp Sauvignon – Sémillon.

 

2.14. Muscadet:

Trồng sát bờ biển Đại Tây Dương, vang thơm mát, có vị mặn mòi của biển.

 

2.15. Muscat:

Vang khô, dịu hoặc ngọt, có vị nho, mật ong và gia vị.

giống nho Muscat

2.16. Pinot Blanc:

Vang thô hơn vang làm từ giống Chardonnay, dùng nhiều trong vang khô và vang sủi.

 

2.17. Pinot Gris:

Vang đậm, độ cồn cao, nhiều khi dùng làm vang ngọt.

 

2.18. Riesling:

Vang trắng tươi mát, nhiều hương vị, nhất là mùi hoa và khoáng chất.

giống nho Riesling

2.19. Roussane:

Vang tinh tế, quý phái, giữ được lâu.

 

2.20. Roussette hay còn gọi là Altesse:

Vang vùng Savoie, có thể làm vang khô hay vang dịu

 

2.21. Sauvignon Blanc:

Giống nho vương giả, được trồng khắp nơi trên thế giới, hương vị hoa quả và ớt ngọt.

giống nho Sauvignon Blanc

2.22. Savagnin:

Vang vùng Jura, sánh đậm, giữ được lâu.

 

2.23. Sémillon:

Giống nho vương giả, thường trộn với Sauvignon blanc để làm rượu Bordeaux trắng.

 

2.24. Sylvaner:

Vang có độ chua cao, khô, nhiều hương vị chanh, bưởi

 

2.25. Ugni Blanc:

Vang có nhiều ương vị hoa quả, đồng thời lại có nhiều chất chua – béo.

 

2.26. Vermentino hay còn gọi là Rolle:

Vang rất thơm, nhưng có xu hướng chuyển sang mùi rượu bị oxy hóa nếu thu hoạch nho muộn.

 

2.27. Viognier:

Vang trắng tinh tế, quý phái, có thể giữ được lâu và càng để lâu càng tăng giá trị.

 

3. Làm rượu vang

Đây là quá trình chuyển hóa nước nho thành rượu. Cần khoảng từ 1,3 – 1,5kg nho tươi để thu được 1 lít rượu vang.

Các giai đoạn chủ yếu trong quá trình sản xuất rượu là:

  • Tách cuống nho khỏi chùm nho
  • Ép nước nho
  • Ủ nho
  • Lên men

Tùy theo ý muốn của nhà sản xuất rượu, muốn thu được rượu vang đỏ, hồng hay trắng mà các công đoạn sản xuất sẽ khác nhau. Giống nho làm rượu cũng ảnh hưởng đến loại rượu thu được.

Giai đoạn lên men rượu

Đây là giai đoạn chủ yếu của quá trình làm rượu, là một quá trình tự nhiên, trong đó đường có ở nho chuyển hóa thành cồn do tác động của vi khuẩn và chất lên men có sẵn trong vỏ nho. Rượu trong quá trình lên men sẽ thải ra khí CO2 . Chính loại khí này trong các chai rượu champagne sẽ làm bật nút chai và làm rượu champagne sủi bọt trông rất hấp dẫn.

Rượu vang đỏ chỉ có thể làm từ nho đỏ, trong khi đó rượu vang trắng có thể làm từ nho đỏ hay nho trắng. Rượu vang hồng, làm từ nho đỏ, có thể làm từ hai phương thức sau: để cho vỏ nho tiếp xúc với nước nho trong một thời gian ngắn sau khi ép để thu được màu hồng đậm (Rosé de Saigné) hoặc ép thẳng nho đỏ và tùy theo mức điều chỉnh độ ép mà thu được màu hồng như ý (Rosé de Presse).

Sau khi ép, nước nho được lọc cặn, cho thêm một lượng nhỏ khí sulfua để diệt khuẩn và được nuôi trong thùng inox hoặc thùng bê tông tráng sơn thực phẩm (Epoxy) hay thùng gỗ sồi. Thời gian nuôi trong thùng gỗ do nhà sản xuất tính toán tùy theo tính chất của giống nho. Một thời gian sau, vang được rút ra khỏi thùng, lọc và đóng chai trước khi đem ra bán cho người tiêu dùng.

3.1. Cách làm rượu vang đỏ

Nho đỏ được hái, đưa về xưởng hoặc nhà máy rồi được ép nhẹ để làm bật hạt nho khỏi quả nho. Sau đó, người ta tăng độ ép để thu được nước nho và bã nho.

Nho sau khi được ép sẽ chuyển qua khâu tách cuống nho khỏi chùm nho. Công đoạn này có mục đích tránh cho cuống nho tiếp xúc với nước nho và làm cho rượu có mùi ngai ngái của cỏ ướt.

Nước nho và bã nho ngay sau đó được đưa vào các bồn chứa lớn bằng inox hoặc bê tông quét sơn thực phẩm (Epoxy). Rượu trong bồn sẽ lên men từ 4 – 10 ngày. Trong khoảng thời gian đó, chất màu và chất chát (tanin) sẽ hòa lẫn vào hỗn hợp lỏng gồm nước nho và bã nho. Người ta có thể thu được rượu có màu sắc và độ chát theo ý muốn tùy theo thời gian ủ nho trong thùng chứa.

cách làm rượu vang đỏ

Nói chung là các loại rượu vang đỏ danh tiếng thường được ủ lâu hơn các loại rượu khác.

Sau khi nho đã được ủ theo thời gian do nhà sản xuất tính toán, rượu sẽ được rút ra khỏi thùng chứa theo nguyên tắc từ tính: chất lỏng (rượu) sẽ tự tách ra khỏi các thành phần nặng khác như: hạt nho, cuống nho, vỏ nho. Nước rút đầu đó được gọi là vang giọt. Hỗn hợp còn lại của thùng chứa sẽ được đem ra ép lại để có được vang ép rất đậm màu và giàu chất chát.

Nói chung, người ta thường trộn lẫn vang giọt và vang ép trước hoặc sau khi đưa vang vào nuôi trong thùng gỗ. Giai đoạn này được đánh dấu bởi một quá trình lên men lần thứ hai, kết quả là chất chua trong vang sẽ giảm đi.

Xem thêm: Những chai rượu vang đỏ có tại SANHRUOUVANG.COM

3.2. Cách làm rượu vang trắng

Rượu vang trắng khác rượu vang đỏ nhờ công đoạn ép nho. Theo đó người ta không để cho nước nho ép tiếp xúc với vỏ nho. Sau khi tách hạt nho khỏi quả nho, người ta sẽ ép nho ngay lập tức nhằm tránh không cho nước nho ép tiếp xúc nhiều với vỏ nho.

Tính đặc thù của rượu vang trắng sẽ thể hiện qua sự tươi mát, đôi khi gắt dịu, nhờ vào độ axit chua tương đối cao. Cũng vì để giữ cho rượu vang trắng có nhiều axit chua, người ta thường ép nho ở nhiệt độ thấp.

Xem thêm: Những chai rượu vang trắng có tại SANHRUOUVANG.COM

3.3. Cách làm rượu vang hồng

Rượu vang hồng được sản xuất như rượu vang đỏ, nhưng thời gian tiếp xúc giữa vỏ nho và nước nho được tính toán sao cho thu được độ màu sẫm (Rosé de Saigné) hoặc ép mạnh trực tiếp để thu được hỗn hợp phơn phớt hồng (Rosé de Presse).

Xem thêm: Những chai rượu vang hồng có tại SANHRUOUVANG.COM

3.4. Cách làm rượu champagne

Nho được lựa kỹ và hái bằng tay trước kỳ thu hoạch ít ngày để tránh cho nho không bị chín quá, sau đó được ép ngay để tránh cho vỏ tiếp xúc với nước nho.

Tiếp đó, nho được ủ ở nhiệt độ thấp để giữ tính chất hoa quả tươi mát.

Kết thúc quá trình ủ chua, nho được rút khỏi bình chứa inox, lọc chất cặn bằng cách cho lòng trắng trứng hoặc chất keo cá vào trong rượu, sau đó được pha lẫn nhau tùy theo ý muốn của chuyên gia làm rượu để giữ được vị gia truyền của nhà sản xuất từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Tiếp đó rượu được đưa ra đóng chai, chuyên gia làm rượu cho thêm vào hỗn hợp rượu sirô đường và chất lên men gọi là Liqueur de Tirage.

Chai champagne sẽ được đóng nút rồi để lên những kệ gỗ (pupitre) hoặc sắt (Giropalette), cổ chai quay xuống dưới và được nuôi một thời gian để tạo bọt.

Chuyên gia làm rượu mỗi tuần sẽ quay chai 45 độ cho cặn lắng xuống đáy cổ chai.

Khi cặn đã xuống hết, chuyên gia làm rượu sẽ nhúng cổ chai vào một chất lỏng đông lạnh để cặn đóng băng, sau đó nhờ sức ép của khí CO2 đẩy vọt cặn ra ngoài sau khi mở nút chai. Rượu thay thế phần rượu và cặn bị mất được gọi là Liqueur d’Expédition, gồm hỗn hợp rượu lâu đời và sirô đường.

Chai champagne được đóng nút lại lần thứ hai và nuôi thêm trong hầm rượu ít lâu trước khi đưa ra dán nhãn và tiêu thụ.

cách làm rượu champagne ( sâm banh )

Xem thêm: Những chai rượu vang sủi có tại SANHRUOUVANG.COM

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Brands: